Dự kiến quy định chi tiết những giao dịch phải công chứng trong Luật công chứng 2026
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng đang được Bộ Tư pháp lấy ý kiến.
Theo đó, dự thảo đề xuất quy định sửa đổi, bổ sung Điều 3 của Luật công chứng 2024 theo hướng liệt kê chi tiết những giao dịch phải thực hiện công chứng. Cụ thể, Điều 3 Luật công chứng 2024 được đề xuất sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 3. Giao dịch phải công chứng, giao dịch công chứng theo yêu cầu
1. Các giao dịch phải công chứng bao gồm:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trừ hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản;
b) Văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp;
c) Hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, đôi, góp vốn, thể chấp nhà ở, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; mua bán, thuê mua nhà ở thuộc tài sản công; mua bán, thuê mua nhà ở mà một bên là tổ chức, bao gồm: nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; thuê, mượn, ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở;
d) Văn bản tặng cho bất động sản, trừ trường hợp được đăng ký theo quy định của luật; hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản; hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng mà các bên tham gia giao dịch là cá nhân;
đ) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng công trình; văn bản thừa kế về nhà ở;
e) Văn bản lựa chọn người giám hộ;
g) Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ;
h) Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn; văn bản sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng;
i) Văn bản ủy quyền giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh.
2. Đối với các giao dịch dân sự không được quy định tại khoản 1 Điều này, việc công chứng được thực hiện theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
3. Việc chứng thực các giao dịch dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực.
Hiện tại, Điều 3 Luật công chứng 2024 quy định như sau:
Điều 3. Giao dịch phải công chứng
1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng.
2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, cập nhật, đăng tải các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Như vậy, Luật công chứng 2024 chỉ đang quy định tính chất của giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng. Do đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng đề xuất quy định chi tiết những trường hợp giao dịch phải công chứng để thuận tiện hơn trong cách áp dụng, hạn chế trường hợp giao dịch vô hiệu do không đảm bảo về hình thức.
Văn bản công chứng có hiệu lực khi nào? Có được dùng văn bản công chứng làm chứng cứ khi có tranh chấp không?
Tại Điều 6 Luật công chứng 2024 quy định hiệu lực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng như sau:
Điều 6. Hiệu lực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên ký và tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu vào văn bản; trường hợp là văn bản công chứng điện tử thì có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 64 của Luật này.
Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan, là cơ sở để các bên tham gia giao dịch đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục liên quan đến giao dịch đã được công chứng.
Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
Trong đó, văn bản công chứng điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm được ký bằng chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của tổ chức hành nghề công chứng (khoản 2 Điều 64 Luật công chứng 2024).
Như vậy, văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng viên ký và tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu vào văn bản đối với văn bản giấy thông thường. Còn trường hợp công chứng điện tử thì sẽ sử dụng chữ ký số của công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng.
Ngoài ra, khi các bên trong giao dịch xảy ra tranh chấp thì có thể cung cấp văn bản công chứng cho Tòa án để làm chứng cứ bảo vệ cho quan điểm của mình.
Tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên hiện nay như thế nào?
Căn cứ Điều 10 Luật công chứng 2024 thì công chứng viên được bổ nhiệm phải đáp ứng đủ những tiêu chuẩn sau đây:
(1) Là công dân Việt Nam không quá 70 tuổi;
(2) Thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng;
(3) Có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật;
(4) Có thời gian công tác pháp luật từ đủ 03 năm trở lên tại cơ quan, tổ chức sau khi có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật;
(5) Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng;
(6) Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng.
Như vậy, người muốn được bổ nhiệm làm công chứng viên phải đáp ứng những tiêu chuẩn về quốc tịch, độ tuổi, ý thức tuân thủ pháp luật, thời gian công tác pháp luật, tốt nghiệp khóa đào tạo công chứng và kết quả tập sự hành nghề công chứng.